Tăng cường miễn dịch phòng chống bệnh Sởi và Thuỷ đậu


Trước tình hình dịch sởi và thuỷ đậu hiện nay, việc cung cấp dinh dưỡng đầy đủ và đúng cách để giúp nâng cao hiệu quả của việc tiêm phong cũng như khi bị bệnh là rất quan. Cần nâng cao sức đề kháng cơ thể bằng ăn uống đủ chất dinh dưỡng, bổ sung hợp lý các vitamin và khoáng chất.

1. Các nguyên tắc của chế độ ăn nâng cao miễn dịch trong giai đoạn mắc bệnh sởi và thủy đậu:

- Chế độ ăn đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm. Nhóm cung cấp chất bột đường, chất đạm, chất béo, giàu vitamin – khoáng chất thiết yếu.
- Ăn đa dạng thực phẩm : 15-20 loại thực phẩm mỗi ngày.
- Thức ăn chế biến dạng lỏng, hay mềm, theo sở thích của từng bệnh nhân.
- Nên bổ sung các dạng siro, hay dạng cốm đa vitamin tổng hợp cho trẻ và khoáng chất cho trẻ em, hay viên đa vitamin khoáng chất cho người lớn giúp cho nâng cao miễn dịch, mà trong thành phần các sản phẩm dinh dưỡng này cần có các thành phần như vitamin A, E, C, kẽm, selen…, trong đó quan trọng hơn cả là vitamin A, C và kẽm.

2. Vì sao phải chú trọng bổ sung vitamin A, C và kẽm cho trẻ trong dự phòng và điều trị bệnh sởi, thủy đậu?


Vitamin A, C và kẽm đều là những vi chất quan trọng giúp nâng cao miễn dịch, bảo vệ cơ thể trước bệnh tật, tăng cường sức đề kháng và chống lại các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, thủy đậu, rubella…

Vitamin A: Vitamin A là loại vitamin tan trong chất béo, có tác dụng bảo vệ mắt, chống quáng gà và các bệnh khô mắt, đảm bảo sự phát triển bình thường của bộ xương, răng, bảo vệ niêm mạc và da, đặc biệt là có tác dụng tăng cường sức đề kháng của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virút như sơi, thủy đậu…
Khi trẻ bị bệnh sởi hay thủy đậu, uống bổ sung vitamin A được coi là điều trị hỗ trợ, với liều lượng như sau:

- Trẻ < 6 tháng: uống 50.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
- Trẻ 6 -12 tháng: uống 100.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
- Trẻ > 12 tháng và người lớn: uống 200.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
Trường hợp có biểu hiện thiếu vitamin A: lặp lại liều trên sau 4-6 tuần.
(theo “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sởi” do Bộ Y tế ban hành tại quyết định số 1327/QĐ-BYT, ngày 18/4/2014)



Bên cạnh đó, nên sử dụng nguồn thực phẩm giàu vitamin A trong các bữa ăn. Thức ăn có nguồn gốc động vật có nhiều vitamin A hay retinol tốt nhất, hầu hết ở dạng retinil ester. Vì gan là nơi dự trữ vitamin A, nên gan có thành phần retinol cao nhất. Chất béo từ thịt và trứng cũng chứa một lượng vitamin A đáng kể.Nguồn tiền vitamin A (Beta-carotene) có từ một số sản phẩm động vật như sữa, kem, bơ và trứng. Các thức ăn nguồn gốc thực vật có nhiều tiền vitamin A như các loại củ quả có màu vàng/đỏ, các loại rau màu xanh sẫm, dầu cọ và các loại dầu ăn khác. Theo các nghiên cứu gần đây, khi vào cơ thể tiền vitamin A sẽ được chuyển thành vitamin A (theo tỷ lệ 12:1 đối với hoa quả chín và 22-24: 1 đối với rau xanh). Chú ý chế độ ăn cần có đủ dầu ăn/mỡ để giúp hấp thu và chuyển tiền vitamin A sang dạng vitamin A.

Kẽm: Kẽm có vai trò quan trọng, cần cho phát triển và duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống miễn dịch, cần thiết cho việc bảo vệ cơ thể trước bệnh tật, làm vết thương mau lành. Thiếu kẽm sẽ làm tổn thương chức năng miễn dịch, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virút từ đó làm giảm tăng trưởng, phát triển của trẻ, làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ.

Nên bổ sung cho trẻ dạng siro kẽm, hay dạng cốm có kẽm, (cho trẻ nhỏ), hay dạng viên cho trẻ lớn và người lớn.
Liều bổ sung kẽm: 10mg kẽm/ngày cho trẻ < 6 tháng, và 20 mg/ngày x 14 ngày cho trẻ > 6 tháng. Người lớn có thể dùng bổ sung 20-30mg/ngày trong thời gian mắc sở hay thủy đậu.

Lựa chọn thực phẩm có nhiều kẽm : Thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng..), đậu xanh nảy mầm cũng nhiều kẽm và dễ hấp thu. Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú sữa mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò
Vitamin C có chức năng chống lại dị ứng, làm tăng chức năng miễn dịch.

Vitamin C có nhiều trong các loại quả chín như: Cam, bưởi, chuối, xoài, dưa hấu… và các loại rau.
Khi trẻ bị bệnh nên cho trẻ uống nước quả chín (từ 1-2 cốc/ngày) để cung cấp đủ lượng vitamin C, giúp nâng cao miễn dịch.

Nhận biết đúng bệnh sởi trước khi đưa con vào viện

Có không ít phụ huynh không phân biệt bệnh sởi và sốt phát ban có sự khác nhau thế nào. Điều này rất nguy hiểm trong việc chăm sóc con nhỏ.

Hiện nay, các bệnh viện trên địa bàn Hà Nội số lượng bệnh nhân nhập viện do sởi khá nhiều. Trong khi đó, bệnh sốt phát ban cũng ghi nhận nhiều ca mắc, nhưng có không ít phụ huynh chưa phân biệt bệnh sởi và sốt phát ban, đó điều rất nguy hiểm trong việc chăm sóc con nhỏ.
Nhiều cha mẹ hoang mang
Thấy con trai 3 tuổi bị sốt cao, đến ngày thứ 3 thì nổi lấm tấm nhiều nốt đỏ trên da, lo con mình bị sởi, chị Phương thảo (Minh Khai – Hai Bà Trưng) liền đưa con đến bệnh viện khám. Tuy nhiên, bác sỹ khẳng định, con gái chị chỉ bị sốt phát ban thôi vì cháu không có triệu chứng của bệnh sởi, còn các nốt đỏ trên da mấy ngày sẽ bay hết.
Ngược lại, bé Minh Khánh, 2 tuổi, cũng con trai chị Thu Hà (Trung Hòa – Cầu Giấy) bị sởi nhưng gia đình không biết lại tưởng bé chỉ bị sốt phát ban thông thường nên không đưa con đi khám cứ ở nhà điều trị, chỉ cho hạ sốt bằng thuốc Efferalgan. Sốt liên tục mấy ngày không khỏi kèm theo ho, khó thở và các nốt ban đỏ xuất hiện toàn thân dày đặc, chị mới đưa con đến khoa Nhi, bệnh viện Bạch Mai khám thì con chị đã bị bội nhiễm do sởi.
Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng – Trưởng khoa Nhi, bệnh viện Bạch Mai, việc phát hiện và phân biệt giữa sốt phát ban và bệnh sởi sẽ giúp ích rất nhiều cho phụ huynh trong việc theo dõi và chăm sóc trẻ mắc sởi. Đây cũng là một trong những yếu tố tích cực làm giảm đáng kể những biến chứng nguy hiểm của bệnh sởi, nhất là biến chứng viêm phổi nặng có thể gây tử vong nhanh chóng ở trẻ bị sởi nặng. Nguyên nhân gây sốt phát ban hầu hết do nhiễm virus thông thường (70 – 80%), trong đó nhóm virus đường hô hấp luôn chiếm đa số và hầu hết là những virus lành tính. Còn sởi do virus thuộc giống Morbillivirus của họ Paramyxoviridae. Bệnh sởi là tình trạng nhiễm virus cấp tính.
Để phân biệt rõ hai căn bệnh này, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng lưu ý phụ huynh, hai bệnh đều giống nhau ở thời điểm ủ bệnh. Giai đoạn này, sốt phát ban và bệnh sởi đều có biểu hiện như sốt (sốt nhẹ hoặc sốt cao 38 – 39 độ C), xuất hiện cảm giác mệt mỏi, lừ đừ vì sốt cao, trẻ đau đầu hay nhức mỏi các cơ bắp, biếng ăn, biếng bú, một số trẻ có thể bị nôn ói hoặc tiêu chảy.

benh soi o tre em
Nhiều mẹ không phân biệt được sởi và sốt phát ban đã dẫn đến những sai lầm đáng tiếc khi chăm con. (Ảnh minh họa)

Tuy nhiên, sau đó, ở giai đoạn phát ban, nếu là phát ban thông thường, thì chỉ là những ban đỏ nhưng mịn và sáng, ít gồ lên mặt da, ban nổi đồng loạt khắp cơ thể và sau khi bay thường không để lại sẹo hoặc vết thâm.
Còn nếu là phát ban do sởi lại có những đặc trưng như: Lúc đầu ban xuất hiện ở sau tai, sau đó lan ra mặt, dần xuống ngực, bụng và ra toàn thân. Đặc điểm ban sởi là ban dạng sẩn (ban gồ lên mặt da), khi bay sẽ để lại những vết thâm trên da. Đặc biệt trẻ bị nhiễm sởi thường có một trong 3 triệu chứng đặc trưng đi kèm đó là triệu chứng chảy nước mũi, ho và mắt đỏ.
Nhận biết đúng bệnh là cơ sở để hạn chế các biến chứng có thể xảy ra
Sự nguy hiểm của bệnh sởi dễ xảy ra với những biến chứng như viêm tai giữa,viêm phổi, tiêu chảy, viêm thanh quản, phế quản, khí quản và viêm não, nhiều khi dẫn đến tử vong. Trẻ em là đối tượng nhiễm bệnh dễ dàng và có thể xuất hiện những biến chứng nặng nề. Hầu hết trường hợp tử vong khi bị bệnh sởi thường không do virus sởi gây ra mà do những biến chứng.
Sốt phát ban do nhóm siêu vi thông thường hầu hết đều là bệnh lành tính. Trẻ bị sốt phát ban nếu được chăm sóc đúng cách, hợp lý về chế độ dinh dưỡng và cách giữ gìn vệ sinh thân thể thì bệnh sẽ tự khỏi sau 5 – 7 ngày mà không gây nên bất kỳ biến chứng nguy hiểm nào cho trẻ.
Ngoài ra, đối với những trường hợp mắc sởi nhẹ không cần phải nhập viện mà được hướng dẫn điều trị tại nhà. Người bệnh cần được nằm cách ly, tránh gió lạnh, nghỉ ngơi, khi sốt có thể dùng thuốc hạ sốt, ăn thức ăn mềm, hạn chế tiếp xúc và thường xuyên đeo khẩu trang. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý sử dụng các loại thuốc đông y cho con, nếu dùng thuốc kháng sinh thì phải tuân theo chỉ định của bác sĩ. Nếu trẻ sốt cao liên tục, khó thở, tiêu chảy mất nước, ho nhiều… thì lúc đó phải đưa đến bệnh viện điều trị để tránh biến chứng nguy hiểm.
Bác sĩ Dũng cho biết thêm, để phòng bệnh, biện pháp tốt nhất là tiêm vaccine phòng sởi. Tất cả những trẻ đã quá lịch tiêm chủng, chưa bị mắc sởi thì nên đến cơ sở y tế để được tư vấn và tiêm chủng đầy đủ. Khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, các bậc phụ huynh cần đưa trẻ đi tiêm vaccine và tiêm nhắc lại mũi thứ 2 khi trẻ 18 tháng tuổi. Việc tiêm liều thứ 2 có thể tạo miễn dịch cho trẻ tới 95%.
Các mẹ có thể tiêm chủng cho con vaccine ngừa 3 bệnh Rubella, sởi, quai bị bằng mũi 3 trong 1 theo thời gian:  Mũi thứ 1 tiêm khi trẻ 12 tháng tuổi; mũi thứ 2 tiêm trong độ tuổi từ 4-6 tuổi. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản thì tiêm một liều duy nhất (phụ nữ chỉ được có thai sau khi tiêm vaccine được 3 tháng).

Xem thêm tại: biến chứng bệnh sởi

Cách chăm sóc bé bị nhiễm khuẩn đường ruột

Chào bác sĩ! Con gái em hiện được 21 tháng. Cháu bị nhiễm khuẩn đường ruột, nôn trớ và đi ngoài nhiều lần. Mong bác sĩ tư vấn giúp em cách chăm sóc cháu. Cảm ơn bác sĩ!

Trả lời
Chào bạn!
Con gái bạn bị nhiễm khuẩn đường ruột, nôn trớ và đi ngoài nhiều lần; chắc chắn bạn đã cho bé đi khám bác sĩ và được kê đơn thuốc để bé không nôn trớ và đi ngoài nữa (có thể là kháng sinh và thuốc cầm đi ngoài...), bạn cần cho con uống thuốc đầy đủ theo chỉ dẫn của bác sĩ để bé mau khỏi bệnh hơn vì khi nôn trớ và đi ngoài nhiều lần, trẻ có thể bị mất nước rất nguy hiểm. Bên cạnh chế độ thuốc, chế độ chăm sóc bé cũng vô cùng quan trọng; bạn cần chú ý những điều sau:
-  Chế độ ăn:
dakhoadongsaigon

  Bạn cần cho bé ăn thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu.
+ Lúc này hệ tiêu hóa của bé rất yếu, niêm mạc ruột đã bị tổn thương do đi ngoài nhiều lần, vì vậy bạn cần cho bé ăn thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu như cháo, súp... nấu loãng. Thậm chí, bạn có thể cho bé ăn nước cháo với muối hoặc đường. Bạn chưa nên cho bé ăn các thức ăn tanh, lạnh và nhiều chất như cua, cá hay lòng đỏ trứng gà... bé sẽ khó hấp thu và có thể làm tình trạng tiêu chảy tồi tệ hơn. Sau khi bé không đi ngoài nữa, bạn có thể cho bé ăn uống bình thường, không nên kiêng khem quá mức vì có thể dẫn đến việc bé bị suy dinh dưỡng.
+ Lúc này bé thường không muốn ăn, quấy khóc; khi đó, bạn nên chia nhỏ bữa ăn của bé ra, mỗi bữa cho bé ăn một chút, vài thìa... Bạn có thể dừng loại sữa đang cho bé uống và thay thế chúng bằng sữa dành riêng cho những trẻ bị nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, tiêu chảy cấp.
+ Bạn cần chú ý cho bé uống thêm nhiều nước đun sôi để nguội, nước cam và đặc biệt là Oresol pha theo đúng tỉ lệ hướng dẫn.
+ Trong quá trình bé bị tiêu chảy, các vi khuẩn đường ruột có lợi bị mất nhiều, cộng với việc uống kháng sinh làm cho tình trạng loạn khuẩn ruột tăng lên, vì vậy, bạn cần bổ sung men tiêu hóa cho bé hoặc cho bé uống cốm bổ tỳ.
+ Để tránh bé nôn, bạn nên cho bé ăn từng ít một; nếu thấy bé không muốn ăn nữa thì nên dừng lại. Sau khi đường ruột của bé tốt lên, bé sẽ ăn uống bình thường trở lại, bạn không nên quá lo lắng.
- Vệ sinh cũng là 1 vấn đề quan trọng trong chăm sóc bé:
+ Bạn cần lau rửa, sát trùng đồ chơi của bé, nhất là những đồ chơi bé hay cho vào miệng.
+ Tập thói quen rửa tay cho bé ngay từ bây giờ.
+ Người chăm sóc bé cần vệ sinh tay sạch sẽ trước khi cho bé ăn và sau khi cho bé đi vệ sinh vì đây là nguyên nhân phổ biến gây ra nhiễm khuẩn tiêu hóa ở bé.
+ Bạn nên xem lại sữa của bé xem có bị ẩm hay mở quá lâu không.
- Bé đi ngoài nhiều lần nên hậu môn hay bị đỏ, rát, khó chịu; bạn nên rửa cho bé thay vì lau bằng giấy, sau đó bôi kem chống hăm cho bé đỡ đau rát.
Chúc bé nhà bạn luôn khỏe mạnh!

Lợi ích nuôi con bằng sửa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp tự nhiên nhưng kinh tế, an toàn và hiệu quả để bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

Theo khuyến cáo của UNICEF: Hiện chỉ có chưa đến 1/3 các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ trong 4 tháng đầu. Tỷ lệ trung bình thế giới là khoảng 40%. Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ở Việt Nam giảm xuống còn khoảng 5% khi trẻ được 4 đến 6 tháng tuổi. Đây là một trong các vùng có tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ thấp nhất và có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ nhỏ.

dakhoadongsaigon
 1. Nuôi con bằng sữa mẹ là “ an toàn, lành mạnh và bền vững”:
An toàn:
Góp phần phòng và chống những bệnh lây nhiễm thông thường như tiêu chảy và viêm phổi, đồng thời cũng phòng chống nhiều chứng dị ứng, ví dụ như hen phế quản.
Lành mạnh:
Sữa mẹ bao gồm hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết và với số lượng đúng, sữa mẹ phù hợp nhất đối với những nhu cầu dinh dưỡng mà trẻ nhỏ cần.
Bền vững:
Có bà mẹ (hay người vú nuôi) là có sữa mẹ, do đó trẻ nhỏ không cần một loại thức ăn nào khác.

Mặc dù những lợi ích như vậy, nhưng hầu hết các bà mẹ ở Việt Nam đang không theo những lời chỉ dẫn trên. Nguyên nhân chủ yếu là thái độ xã hội, trong đó thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng, nhất là người chồng, các bậc ông, bà; và sự bận rộn của phụ nữ bởi nhiều công việc trong ngày, thiếu kiến thức và các bà mẹ không ý thức được vai trò quan trọng sống còn của vấn đề này.

2. Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ:
 

Lợi ích cho trẻ:
Sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ, bao gồm đường, chất béo, đạm, nước với nồng độ cần thiết cho trẻ. Cơ thể của trẻ tiêu hóa nguồn dinh dưỡng từ  sũa mẹ tốt hơn sữa ngoài.
Những kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ nào được nuôi bằng sữa mẹ thì trưởng thành và phát triển tốt hơn, nó giúp trẻ ít tăng cân quá mức cần thiết và do đó giảm nguy cơ béo phì sau này.
Đối với trẻ sanh thiếu tháng, bé nào được nuôi bằng sữa mẹ sẽ phát triển hơn những trẻ được nuôi bằng sữa ngoài.
Trẻ nuôi bằng sữa mẹ có chỉ số thông minh cao hơn, đặc biệt đối với trường hợp trẻ sanh thiếu tháng.

Lợi ích cho mẹ:
Việc nuôi con bằng sữa mẹ giúp bà mẹ tiêu thụ tích cực nguồn năng lượng, do đó dễ dàng duy  trì cân nặng bình thường sau thời kì mang thai. Bên cạnh đó, tử cung cũng dễ co lại đúng kích thước và giảm chảy máu sau sanh
Cho con bú sữa mẹ còn có tác dụng trì hoãn thời điểm rụng trứng và chu kì kinh nguyệt. Tuy nhiên người mẹ cũng cần trao đổi với bác sĩ về cách ngừa thai mình chọn.
Nuôi con bằng sữa mẹ làm giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng và có thể giúp giảm nguy cơ loãng xương khi đến thời kì mãn kinh.
Nuôi con bằng sữa mẹ làm cuộc sống dễ dàng hơn, người mẹ sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc do không phải tốn tiền mua sữa, không tốn thời gian pha sữa cho con.
Người mẹ có thể cho con bú bất cứ lúc nào trẻ đói, thỏa mãn được nhu cầu của trẻ.
Thời gian cho con bú chính là lúc mẹ và con được nghỉ ngơi, giải trí. Hơn nữa, sự tiếp xúc giữa 2 cơ thể khi người mẹ bồng con để cho trẻ bú giúp trẻ tự tin hơn, có cảm giác an toàn hơn, ấm áp hơn. Cũng vậy, những phụ nữ cho con bú sẽ có cảm giác tự tin hơn và gần gũi với con hơn.

 Lợi ích cho xã hội:
Nuôi con bằng sữa mẹ giúp tiết kiệm chi phí chăm sóc sức khỏe. Kinh phí cho y tế của một đất nước mà trẻ được bú mẹ hoàn toàn thấp hơn những nước mà trẻ không được bú mẹ hoàn toàn vì phải tốn chi phí cho bệnh tật, thuốc men và bệnh viện.
Nuôi con bằng sữa mẹ góp phần tăng lực lượng lao động. Những bà mẹ cho con bú làm việc ít hơn nhưng con của họ thì ít bệnh hơn. Do đó, chi phí cho y tế cho việc thuê mướn lao động thấp hơn nhưng năng suất lao động cao hơn.
Bên cạnh đó, việc cho con bú sữa mẹ cũng góp phần bảo vệ môi trường sống vì như thế sẽ có ít chai sữa và các vật dụng liên quan đến việc cho con bú ngoài thải ra môi trường hơn.

3. Tính đa dạng trong thành phần sữa mẹ:
 
Sữa non:
Sữa mẹ bài tiết trong vài ngày đầu sau đẻ gọi là sữa non. Sữa non màu vàng nhạt, đặc sánh.
Sữa non có nhiều kháng thể, tế bào bạch cầu, bảo vệ cơ thể trẻ chống nhiễm khuẩn và dị ứng.
Sữa non có tác dụng xổ nhẹ giúp cho việc tống phân su, trẻ đỡ vàng da.
Các yếu tố phát triển trong sữa non giúp bộ máy tiêu hóa trưởng thành, chống dị ứng và không dung nạp các thức ăn khác.
Sữa non có nhiều vitamin A giúp trẻ phòng chống nhiễm khuẩn và bệnh khô mắt.
Vì vậy, cần phải cho trẻ bú sớm ngay trong vòng nửa giờ sau đẻ, không dược cho trẻ nhận bất kì một thức ăn hay nước uống nào trước khi trẻ bắt đầu bú mẹ.

Sữa trưởng thành:

Gồm có sữa đầu và sữa cuối bữa.
Sữa đầu có màu hơi xanh. Trẻ bú sữa đầu sẽ nhận được khối lượng lớn các chất dinh dưỡng và nước. Vì vậy, không cần cho trẻ uống thêm nước hoặc bất kì loại dịch nào trước khi trẻ được 4-6 tháng tuổi và ngay cả khi trời nóng nực.
Sữa cuối được sản xuất ở cuối bữa bú có màu trắng hơn vì chứa nhiều chất béo. Vì vậy, cần cho trẻ bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang vú khác để trẻ nhận dược chất béo cung cấp nhiều năng lượng cho bữa bú.
 
Sự khác nhau giữa sữa mẹ và sữa bò:
    5.   Những tác hại của việc nuôi trẻ bằng sữa nhân tạo:
-          Trẻ dễ mắc tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp.
-          Trẻ dễ bị suy dinh dưỡng.
-          Tăng nguy cơ mắc một số bệnh mãn tính ở trẻ.
-          Nguy cơ tử vong ở trẻ cao.
-          Giảm sự gắn bó tình cảm mẹ con.
-          Trẻ tăng cân quá mức.
-          Chỉ số thông minh của trẻ thấp.
-          Trẻ dễ bị dị ứng do không dung nạp sữa.
-          Mẹ sớm có thai trở lại.
-          Tăng nguy cơ mắc bệnh thiếu máu, ung thư vú và buồng trứng cho mẹ.


Kết Luận:

Bú mẹ hoàn toàn là tiêu chuẩn cao nhất về nuôi trẻ.
Các trường hợp mẹ mất sữa vô cớ là vô cùng hiếm. Nếu được thông tin đầy đủ và sự hỗ trợ thì hầu như tất cả các bà mẹ đều có khả năng có đủ sữa nuôi con.
Việc cho con bú sữa mẹ mang lại rất nhiều lợi ích, ngay cả khi người mẹ chỉ có thể cho con bú trong một thời gian ngắn.

Đăng bởi: BS.CK2. Nguyễn Thị Hạnh Lê - Phó Giám Đốc Bệnh Viện

Công dụng của quả mận

Thành phần của mận: Giàu chất xơ, kali, vitamin A, sắt, vitamin B2, vitamin B1 và magiê.
man
Lọc máu: Chất xơ trong mận giúp ngăn ngừa nghẽn tiểu cầu là nguyên nhân gây ra rối loạn máu như xơ cứng động mạch và huyết áp cao. Mận cũng cung cấp nhiều oxy cho máu, được khuyên dùng cho những người mang bệnh động mạch vành hay có nguy cơ đột quỵ. Mận còn giúp cải thiện chức năng gan, dạ dày và ruột, đồng thời ngăn ngừa táo bón.
Thực đơn trước khi luyện tập: Ăn vài trái mận trước khi tập thể dục sẽ giúp ngăn ngừa sự mệt mỏi và chứng vọp bẻ do mận chứa nhiều nước và axit citric.
Trái tim khỏe mạnh: Chất xơ trong mận có thể hòa tan được, nghĩa là nó có thể gắn kết với cholesterol và đẩy mạnh việc bài tiết cholesterol ra khỏi cơ thể. Nó cũng có tác dụng tương tự với đường trong máu và giúp ổn định đường huyết bằng cách làm chậm quá trình hấp thu đường. Cắt vài trái mận cho vào chén yến mạch là cách giúp tim hấp thu tác dụng của mận tốt nhất.
Đôi mắt long lanh: Hàm lượng vitamin A trong mận giúp ngăn ngừa sự thoái hóa con ngươi và chống nhiễm trùng mắt.
Chất chống oxy hóa: Mận còn có khả năng chống lại các căn bệnh nguy hiểm như ung thư, do mận chứa nhiều chất chống oxy hóa giúp tiêu trừ các gốc tự do.
Làn da và mái tóc tươi trẻ: Chỉ cần ăn hai trái mận mềm chín mỗi ngày sẽ giúp da và tóc đẹp hơn

3 tác dụng thần kỳ của trái thần kỳ

Trái thần kỳ được người bán giới thiệu như là một loại trái cây có tác dụng làm thay đổi vị giác con người, chỉ cần ăn một trái thần lỳ thì sau đó có thể ăn những trái cây chua đều trở nên ngọt.Vậy lợi ích thật sự của trái thần kỳ như thế nào, chúng ta sẽ phân tích rõ hơn sau đây.

than duoc

1. Thành phần hóa học của trái thần kỳ
Các nhà khoa học đã phân tích thành phân hóa học của trái thần kỳ thu được đường và miraculin.  Hàm lượng đường trong  trái thần kỳ không cao nhưng vị ngọt thì rất dịu và đặc biệt sự “kỳ diệu” của trái thần kỳ được đánh giá cao vì khi ăn vào thì nó khiến cho vị chua, cay, đắng của các loại quả hoặc thức ăn, thức uống kế tiếp sẽ trở nên ngọt. Chẳng hạn sau khi nếm quả thần kỳ rồi nếm quả chanh thì sẽ thấy chanh trở nên ngọt vô cùng. Để giải thích hiện tượng này, có giả thuyết cho rằng sự tác động của các phân tử miraculin đã làm sai lệch sự định hướng của các thụ thể cảm nhận trên gai lưỡi, làm cho lưỡi trở nên thích ứng và chỉ còn duy nhất là vị ngọt trong một khoảng thời gian nhất định, thường kéo dài vị ngọt từ 1-2 giờ.
2. Tác dụng chữa bệnh của trái thần kỳ
Thật ra trái thần kỳ không có tác dụng chữa bệnh như tiểu đường, ung thư…như nhiều người lầm tưởng, mà nó chỉ có hỗ trợ các bệnh nhân giảm nhu cầu sử dụng đường trong quá trình ăn kiêng để điều trị bệnh. Mặt khác trái thần kỳ còn giúp cho người đang điều trị bệnh ung thư thay đổi vị giác nhằm cải thiện chế độ dinh dưỡng, bệnh nhân sẽ ăn ngon miệng hơn.
Còn đối với những người khỏe mạnh thì sau khi dùng trái thần kỳ sẽ biến tất cả vị mặn, chua, cay, đắng của thức ăn nước uống chỉ còn một vị ngọt duy nhất.
3. Khi ăn trái thần kỳ coi chừng bao tử
Điều rất cần lưu ý đó là miraculin có trong trái thần kỳ chỉ đánh lừa vị giác chứ không làm thay đổi cấu trúc hóa học của các thực phẩm. Do đó, khi chúng ta sử dụng những chất có vị chua mang tính axít với số lượng lớn (ví dụ như chanh, giấm, đồ chua hoặc cay nồng như bia, rượu…), mặc dù vị giác cho cảm giác ngọt nhưng bản chất nó vẫn là axít và cồn. Vì vậy sẽ gây tổn thương trong niêm mạc miệng và dạ dày. Nếu dùng lâu sẽ dẫn đến loét miệng, vòm họng, ung thư dạ dày và gan.
Người ta cũng đã chứng minh rằng Miraculin trong trái thần kỳ là một protein không bền ở nhiệt độ cao và chỉ bị phân hủy khi đun nóng. Vì vậy khi nấu chín, quả thần kỳ sẽ không còn tác dụng trên vị giác nữa. Nó chỉ có tác dụng khi được sử dụng dạng trái tươi.
Qua các phân tích trên cho thấy rỏ lợi ích thật sự của trái thần kỳ, mong các bạn thưởng thức sự thần kỳ đó với liều lượng vừa đủ nhằm bảo vệ cái bao tử thân yêu của chúng ta.

Nguồn: dakhoasaigon

Cách Nhận Biết Và Phòng Tránh Trẻ Bị Béo Phì

Chào chị, như chị cũng biết, ăn không đầy đủ các chất dinh dưỡng và đa dạng thực phẩm cháu sẽ không khỏe và  khó lòng có kết quả học tập tốt.
Trước tiên chị hãy giúp cháu tự xác định xem mình có thừa cân hay không để cháu tự tin khi thưởng thức các món ăn mà mẹ bồi dưỡng bằng cách tính chỉ số khối cơ thể (công thức cân nặng (kg)/chiều cao (m) 2). Nếu chỉ số này > 23 thì cháu bắt đầu thừa cân và >25 là béo phì.
da khoa dong sai gon

Chị cũng giải thích cho cháu ăn đủ 3 bữa chính và 1-2 bữa phụ là cần thiết cho hệ thần kinh cũng như cơ thể. Khi chuẩn bị bữa ăn, chị chú ý chọn lựa các thực phẩm giàu đạm ít béo như thịt gà, trứng, đậu hũ, cá, các loại rau xanh, các loại củ quả khác nhau để giúp cháu ngon miệng và học tốt hơn.
Cháu đã lớn cần trao đổi thông tin để cháu hiểu và tự giác thực hiện hơn là ép cháu chị nhé

Điều Trị Bệnh Thủy Đậu

Cách chăm sóc người bệnh thủy đậu
Thông thường, các nốt mụn nước sẽ “hành hạ” cơ thể người bệnh từ 4-6 ngày, sau đó chúng sẽ khô dần, bong tróc và không để lại sẹo.
Khi bị bệnh, bạn cần giữ gìn vệ sinh cơ thể sạch sẽ, mặc áo quần thông thoáng, hút mồ hôi để tránh bị nhiễm khuẩn.                   
Hạn chế tiếp xúc với môi trường ô nhiễm, khói bụi.
Có chế độ ăn uống phù hợp, đầy đủ dưỡng chất để cơ thể có sức đề kháng tốt chống lại mầm bệnh phát triển.
Hạn chế những thức ăn có tính nóng, thức ăn cay, nhiều gia vị vì nó sẽ khiến cho bệnh thêm trầm trọng và cảm giác ngứa rát nhiều hơn
Tăng cường bổ sung rau xanh, trái cây tươi, uống nhiều nước đặc biệt là các loại nước có tác dụng thanh nhiệt, giải độc cơ thể để cơ thể bạn bài tiết độc tố ra ngoài
da khoa dong sai gon

Cách điều trị bệnh thủy đậu
Triệu chứng đáng sợ nhất của bệnh thủy đậu là toàn thân nóng ran, cảm giác rất ngứa ngáy, khó chịu và người bệnh chỉ muốn gãi thật mạnh lên những nốt mụn nước nhưng đây lại là hành động khiến cho bệnh thêm trầm trọng và có những biến chứng nguy hiểm, vì thế, cần sử dụng các loại thuốc chống ngứa như Chlorpheniramine, fexofenadine v.v. hoặc các loại thuốc kháng histamine khác có tác dụng giảm ngứa kèm theo thuốc giảm sốt, chống đau nhức, tuy nhiên phải sử dụng thuốc với sự hướng dẫn cẩn thận của bác sĩ.
Khi bị bệnh, hãy thường xuyên tám rửa sạch sẽ bằng nước ấm pha muối loãng hoặc xà phòng trung tính để làm dịu cơn ngứa.
sử dụng thuốc bôi ngoài da: Như Acyclovir là một thuốc kháng virus được sử dụng để rút ngắn thời gian của bệnh, bạn phải dùng sóm ngay khi cơ thể bị phát bệnh thì mới hiệu quả nhé.
Sử dụng các bài thuốc chữa bệnh thủy đậu theo hướng dẫn của thầy thuốc Đông y tuy nhiên phải đảm bảo về y tín của thấy thuốc cũng như nguồn gốc của thuốc.
Việc điều trị bệnh thủy đậu đòi hỏi người bệnh phải kiên nhẫn, chịu khó, tốt nhất bạn hãy quên đi mình đang bị bệnh, quên đi những cơn ngứa ra hành hạ bạn thì chỉ trong một thời gian ngắn bệnh sẽ nhanh chóng biến mất và không gây những biên chứng nguy hiểm khác.
Trên đây là cách chăm sóc và điều trị bệnh thủy đậu hiệu quả nhất mà chúng ta cần phải biết để tự chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho chính mình. Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh nào việc phòng bệnh cũng tốt hơn là chữa bệnh, chính vì thế hãy tiêm văc xin phòng bệnh thủy đậu đồng thời hạn chế tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh chính là cách phòng bệnh hiệu quả nhất. Chúc bạn luôn biết bảo vệ sức khỏe của chính mình bởi nó là vốn quý nhất của con người đấy nhé.

Triệu chứng của bệnh Thủy Đậu

Bệnh thủy đậu (còn gọi là bệnh trái rạ) bệnh do virus Varicella zoster gây ra. Bệnh chủ yếu ở trẻ em.
Triệu chứng
Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 - 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, khởi phát bệnh thường đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước, mụn nước nổi ở vùng đầu mặt, chi và thân, mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 - 24 giờ có thể nổi toàn thân. Mụn nước có kích thước từ l - 3 mm đường kính, chứa dịch trong, tuy nhiên những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.
Bên cạnh mụn nước trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn nhưng ở người lớn hay trẻ lớn thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 - 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước có thể để lại sẹo.
Ban ngứa có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn bệnh.Sốt nhẹ, nhức đầu và mệt mỏi là điều thông thường.
Người bị nhiễm bệnh có thể bị từ chỉ vài mụn trái rạ cho đến hơn 500 mụn trên thân thể.
Lây lan
Bệnh rất truyền nhiễm và lây lan qua sự đụng chạm đến ban ngứa từ người bị thuỷ đậu hoặc qua những giọt nước nhỏ trong không khí từ miệng hay mũi của một người bị nhiễm (ví dụ, khi một người bị nhiễm trái rạ hắt hơi nhảy mũi hoặc ho).
Bệnh cũng có thể lây lan qua sự tiếp xúc đến quần áo hoặc vải trải giường bị ô nhiễm bởi chất dịch từ ban ngứa hoặc từ miệng hay mũi của người bị bệnh.
Bệnh phát triển trong vòng 10-21 ngày sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh.
Bệnh thuỷ đậu có thể lây từ 1-2 ngày trước khi nổi ban ngứa cho đến khi tất cả những vết phồng đã đóng vảy (thông thường trong vòng 5 ngày từ khi những vết phồng nổi lên).
Những người nào có hệ miễn dịch bị suy yếu mà bị trái rạ thì có thể phải mất một thời gian lâu hơn để những mụn thuỷ đậu của họ đóng vảy.
Khoảng 90% những nguời nào mà chua từng bị thuỷ đậu trong gia ðình thì sẽ bị nếu tiếp xúc với một nguời thân bị nhiễm bệnh.

da khoa dong sai gon

Biến chứng
Biến chứng của bệnh thủy đậu rất là nhiều, mặc dù đây là một bệnh lành tính, không có triệu chứng nặng nề ngoài những hồng ban mụn nước lan tràn. Tuy nhiên, bệnh có thể có những biến chứng rất quan trọng.
Biến chứng nhẹ của bệnh là nhiễm trùng da nơi mụn nước, nặng hơn vi trùng có thể xâm nhập từ mụn nước vào máu gây nhiễm trùng huyết. Các biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não... là các biến chứng có thể nguy hiểm đến tính mạng, hay để lại di chứng sau này.
Đặc biệt, thậm chí sau khi bệnh nhân đã khỏi bệnh, siêu vi thuỷ đậu vẫn còn tồn tại trong các hạch thần kinh dưới dạng bất hoạt (ngủ đông). Nhiều năm sau đó, có thể là 10, 20, hay 30 năm sau, khi có điều kiện thuận tiện như sức đề kháng cơ thể kém hay có yếu tố gì khác, thì siêu vi này sẽ tái hoạt động trở lại và gây ra san thương của bệnh Zona, có người còn gọi là giời leo.
Phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh thủy đậu sẽ rất nguy hiểm vì sẽ dễ bị biến chứng nặng, đặc biệt là viêm phổi. Khi phụ nữ mang thai bị thủy đậu ở 3 tháng đầu của thai kỳ, virus sẽ gây sẩy thai, hay khi sinh ra trẻ sẽ bị thủy đậu bẩm sinh với nhiều dị tật như đầu nhỏ, co gồng tay chân, bại não, sẹo bẩm sinh... Còn nếu bị trong những ngày sắp sinh hay sau sinh trẻ bị lây bệnh sẽ bệnh rất nặng với mụn nước nổi rất nhiều và dễ bị biến chứng viêm phổi.

Những bài thuốc nhân gian dùng điểu trị ho



1. Trị ho bằng mật ong
- Mật ong hấp quất còn nguyên vỏ xanh

Cách làm: Quất (3 - 4 quả), rửa sạch vỏ, để ráo nước, bổ đôi quả, bỏ hạt, thái lát mỏng, cho vào bát tô. Đổ mật ong ngập phần quất, trộn đều cho quất thấm đều mật ong. Sau đó đem hấp hoặc cho vào nồi đun cách thủy 10 - 15 phút, tới khi quất nhuyễn, quyện đều với mật ong thành một thứ dịch sánh như siro.
Để nguội, ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 1 - 2 thìa café. Khi uống, có thể thêm một vài hạt muối. Không nuốt ngay, ngậm 5s trong miệng, để trôi từ từ qua cổ họng, giúp giảm viêm họng, giảm ngứa rát, khản tiếng…
dakhoadongsaigon
Mật ong thường được sử dụng để chữa ho trong dân gian.
- Mật ong hấp lá hẹ

3 - 5 nhánh lá hẹ, rửa sạch, để ráo nước, thái nhỏ, cho vào bát. Đổ mật ong ngập lá, trộn đều, đem hấp hoặc đun cách thủy cho tới nhuyễn. Cách sử dụng tương tự mật ong hấp quất.
- Mật ong hấp tỏi
4 - 5 nhánh tỏi, đập dập, trộn đều mật ong, đem hấp cách thủy, tới khi ngửi thấy mùi tỏi hăng hắc là được (Không cần để tỏi quá nhừ). Để nguội, uống 2 -3 lần/ngày, mỗi lần 1 - 2 thìa café. Mật ong khi hấp cùng với tỏi làm tăng tính kháng sinh tự nhiên, giảm viêm họng, tăng sức đề kháng.
Có thể làm tương tự cách trên với các nguyên liệu khác như: cánh hoa hồng, rễ chanh, lá húng chanh, quả phật thủ, hoa khế, hoa đu đủ đực, lá tía tô, hành hoa… Tùy theo những nguyên liệu có sẵn trong mỗi gia đình mà sử dụng để chế biến.
2. Trị ho bằng vỏ bưởi
Vỏ bưởi 10 gr, thêm đường kính, hấp uống dần dần.
dakhoadongsaigon

3. Rau húng chanh
Rau húng chanh thường được gọi là rau thơm lông hay rau thơm lùn. Rau húng chanh có lượng tinh dầu tự nhiên quý và mùi thơm dễ chịu như mùi của quả chanh. Loại tinh dầu này là một loại kháng sinh với nhiều loại vi khuẩn, tác dụng chữa bệnh của lá húng chanh chính la nhờ lượng tinh dầu này. Vì vậy, lá húng chanh có mặt trong nhiều bài thuốc dân gian để điều trị cảm cúm, ho, viêm họng và khản tiếng.
dakhoadongsaigon
Lá húng chanh có mặt trong nhiều bài thuốc dân gian để điều trị cảm cúm, ho,..
Bạn có thể lấy từ 7-9 lá húng chanh tươi, đem rửa sạch và ngâm với nước muối loãng để khử trùng. Vớt lá húng chanh ra, vẩy sạch nước hoặc để ráo, nhai kỹ, ngậm trong miệng rồi nuốt nước dần.
4. Cải cúc
Rau tần ô – Cải cúc, Cải tần ô, Rau cúc, Rau tần ô. Để chữa ho, bạn có thể lấy khoảng 6g lá cải cúc cắt nhỏ, cho vào bát, hấp cùng một ít đường trong nồi cơm để nước tiết ra. Nước cải cúc hấp được chia thành nhiều lần và cho trẻ uống trong ngày. Người ho lâu ngày nên ăn nhiều canh cải cúc để có thể bớt ho.
Cháo giải cảm: Lấy 200g rau cải cúc tươi, rửa sạch, làm ráo nước, cắt nhỏ; Vo sạch 100g gạo tẻ cho vào nồi, cho thêm vào 1 lít nước rồi đun cháo nhừ, cho rau cải vào, thêm gia vị, ăn nóng.
Ho do lạnh ở trẻ em: bạn dùng khoảng 6g cải cúc rửa sạch, cắt nhỏ, thêm ít mật ong hấp cách thủy cho ra nước để uống trong ngày, uống liên tục trong 3 – 5 ngày.
5. Cải củ
Cải củ hay còn gọi là rau lú bú có tên khoa học là Raphanus sativus là loại cây thảo sống hằng năm, được trồng khắp nơi ở nước ta có rễ củ trắng, có vị nồng cay, dài khoảng 40 cm dạng trụ tròn dài, chuỳ tròn hay cầu tròn. Củ cải có vị ngọt, hơi cay, đắng, tính bình, không độc, có tác dụng làm long đờm, trừ viêm, tiêu tích, lợi tiểu, tiêu ứ huyết, tán phong tà, trừ lỵ, củ khô cũng làm long đờm. Hạt củ cải có vị cay ngọt, mùi thơm, tính bình; có tác dụng tiêu đờm, trừ hen suyễn,thông khí, lợi tiểu, nhuận tràng.
Để điều trị ho nhiều đờm, suyễn, tức ngực, khó thở: bạn lấy khoảng 10g củ cải, 10g hạt tía tô, 3g hạt cải, sao vàng cho đến khi có mùi thơm và tán nhỏ các vị trên, cho vào túi vải, cho thêm chừng 300ml nước, sắc còn 100ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Những mẹo chữa say nắng cho trẻ

1. Cho trẻ vào nơi có bóng râm thoáng mát
Là cha mẹ trẻ, bạn hãy dành chút thời gian hướng dẫn cho những đứa trẻ nhà bạn và cả người trực tiếp chăm sóc trẻ cách nhận biết các triệu chứng của say nắng. Bởi vì hầu hết các dấu hiệu của triệu chứng say nắng khá dễ nhận biết từ bên ngoài. Và ngay sau khi trẻ bắt đầu cảm thấy cơ thể quá nóng bức, hãy lập tức cho trẻ từ ngoài trời nắng vào nơi có bóng mát, bóng râm hay một nơi có không khí thoáng mát hơn để giảm nhiệt độ cho trẻ.
dakhoadongsaigon

2. Tháo bỏ giày dép
Khi đưa trẻ vào trong bóng mát hoặc nơi thoáng mát, bạn nên chú ý tháo bỏ giày dép cho trẻ nhằm giúp cơ thể thoát nhiệt qua bàn chân và đầu ngón chân.
Ngoài tháo giày dép, bạn hãy chú ý cởi cả tất, mũ bảo hiểm và bất kỳ phụ kiện gì trên người trẻ khi trẻ ngay lập tức.
3. Chườm khăn lạnh
Dùng khăn ướt chườm trên trán và trên lưng trẻ để giúp nhanh chóng hạ nhiệt độ cơ thể xuống. 
Lúc này, bạn cũng nên cho trẻ uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước lọc, nước chanh. Tránh cho trẻ uống thức uống có caffein trong thời tiết nóng nực hay thức uống chứa nhiều đường vì caffeine là một loại thuốc lợi tiểu có thể dẫn đến mất nước còn nước có chứa quá nhiều đường cũng khiến trẻ nhanh chóng bị khát.

dakhoadongsaigon2
















4. Theo dõi nhiệt độ thường xuyên
Bạn hãy mặc cho trẻ những trang phục thoáng mát, mỏng để nhiệt độ cơ thể được loại bỏ một cách nhanh chóng. Hãy theo dõi nhiệt độ cơ thể của trẻ thường xuyên và theo dõi liên tục cho đến khi nhiệt độ cơ thể trở lại bình thường với trẻ. Tuyệt đối khi trẻ bị say nắng, bạn không nên lơ là theo dõi nhiệt độ của trẻ vì chúng có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của trẻ nhà bạn đấy.
5. Đưa trẻ đi bệnh viện nếu có những dấu hiệu bất thường
Nếu trẻ bị hôn mê, nôn hoặc có dấu hiệu rối loạn tâm thần thì bạn phải nhanh chóng tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức. Bởi vì say nắng nếu không được điều trị sớm có thể gây tổn hại lâu dài cho các cơ quan nội tạng của trẻ và thậm chí có thể khiến trẻ bị tử vong.

Nguyên nhân gây dị ứng ở trẻ

Bỗng nhiên bé ách xì, ho hoặc thở khò khè thì cha mẹ đừng vội nghĩ đến ngay bé bị viêm họng, ho… vì bệnh lý. Ngay lúc đó nên kiểm tra lại những nguyên nhân gây dị ứng ngay trong phòng của bé và trong nhà bạn.
dakhoadongsaigon


Nguyên Nhân
Bụi bặm: thành phần nhỏ bé này là yếu tố tự nhiên ở trong nhà và là tác nhân thường dẫn đến dị ứng và hen suyễn nhất. Để tránh cho trẻ tiếp xúc nhiều với tác nhân này thì chúng ta nên bọc chiếu/nệm và gối của trẻ bằng bao chắn bụi. Thường xuyên thay rèm cửa, tấm trải giường, áo gối thường xuyên, khi giặt nên giặt bằng nước nóng. Hút bụi, vệ sinh nhà cửa, giường tủ, bàn ghế. Nếu có khả năng thì nên sử dụng các loại vật dụng được làm bằng gỗ, da thuộc hoặc nhựa vinyl.
Nấm mốc: loại này phát triển rất nhanh trong môi trường ẩm thấp như phòng tắm, nhà bếp, trong tủ lạnh và thảm trải sàn. Luôn giữ bồn tắm, chậu rửa khô ráo, sạch sẽ và phải sửa chữa ngay những ống bị rỉ nước.
Vật nuôi trong nhà: người nuôi thường bị dị ứng do tiếp xúc thường xuyên với lông thú, da thú, nước bọt, nước tiểu. Một trong những việc quan trọng đầu tiên phải làm khi quyết định nuôi thú là không bao giờ được mang chúng vào giường và gần tấm trải giường.
Khói thuốc lá: Không nên hút thuốc trong nhà hoặc trong xe. Nhắc nhở người thân và bạn bè không hút thuốc khi có trẻ con.
Chất tẩy rửa: những chất tẩy rửa có hoạt chất mạnh, mùi nồng cũng có thể gây kích thích hệ hô hấp của những người bị dị ứng và hen suyễn

nhận biết trẻ bị thiếu canxi?

Câu hỏi:
Chào Bác sỹ. Con em lúc mới sinh được 3.4kg, hiện nay cháu được 4,5 tháng, cân nặng 7,2kg, tay cháu hay nắm lại, lúc ngủ cháu hay giật mình, thậm chí lúc đang ngồi chơi nói to cháu cũng giật mình (nhưng tóc cháu không rụng, sáng nào cháu cũng tắm nắng) em nghe nói vậy là thiếu canxi, xin bác sỹ cho em biết như vậy có phải là thiếu canxi không, và biện pháp khắc phục như thế nào?

dakhoadongsaigon

Câu trả lời: 
Chào em Thanh Nhàn!
Bé nhà em hay giật mình, là do ở trẻ nhỏ các tế bào thần kinh chưa được biệt hóa nên phản ứng của vỏ não có xu hướng lan tỏa, bất kỳ 1 kích thích nào cũng có thể gây ra 1 phản ứng toàn thân. Chính vì vậy mà trẻ nhỏ hay bị giật mình, phản xạ này sẽ dần hoàn chỉnh và giảm dần đi. Khi ngủ bạn nên chặn 2 gối ở 2 bên, ngoài ra khi cháu thức dậy và trước khi ngủ lấy dầu khuynh diệp xoa vào hai lòng bàn chân và sau lưng và massage cho cháu khoảng 15phút (tránh massage sống lưng, chỉ massage hai bên, vì sống lưng các cháu còn yếu, có thể gây tổn thương).
Bé được 4 tháng rưỡi, nặng 7,2 kg là bé phát triển tốt. Có nhiều trường hợp bé bị còi xương nhưng vẫn đủ cân thậm chí thừa cân. Nguyên nhân và biểu hiện của trẻ bị thiếu canxi bao gồm:
Trẻ hay giật mình, quấy khóc khi ngủ, bé ra nhiều mồ hôi (nhất là vùng đầu, gáy); bé có dấu hiệu rụng tóc hình vành khăn; đầu bé có thể bị bẹp như cá trê, bé có biểu hiện khó thở, nôn trớ.
Nguyên nhân là vì giai đoạn này, xương của bé phát triển mạnh, đòi hỏi lượng canxi lớn; trong khi đó, nguồn canxi bé hấp thụ qua sữa thường không đủ so với nhu cầu.
Để biết bé có chắc bị thiếu canxi hay không em nên đưa bé đi khám tại chuyên khoa nhi hoặc viện dinh dưỡng để kịp thời bổ sung canxi, vitamin D cho bé!
Chúc em chăm con tốt!